Con người có cần luật đạo đức ?

Rousseau đã tin. Và ông cũng tránh những xác định bản chất đơn giản về con người. Con người „có bản chất“ tốt hay xấu, cái đó ông không muốn xác định. Nhưng đã có những cái khuôn giúp con người nhận biết được thế giới, thì hẳn cũng có những cái khuôn giúp họ có khả năng hành động đạo đức. Chính trong cái khả năng này – đây là tư tưởng quan trọng nhất của Kant – hẳn phải ẩn dấu một luật đạo đức, luật này ấn định con người phải nên đối xử với nhau ra sao.
Khả năng hướng thiện của con người tạo ấn tượng lên Kant quá mạnh, khiến ông gán cho con người một danh vị rất đặc biệt, đó là Nhân phẩm. Ai có được tự do để có thể hành động một cách đạo đức, người đó là một thực thể cao cả vượt lên tất cả mọi thứ. Nhìn như vậy thì chẳng có gì lớn hơn con người. Là vì theo Kant, mọi loài sinh vật khác có lẽ không có được tự do để quyết định và hành động. Và vì con người là loài cao cả nhất trong mọi loài, nên cũng không có gì quý hơn sự sống con người. „Nhân phẩm“ không phải là điều do Kant khám phá ra. Người đầu tiên nghĩ ra khái niệm đó sống cách
Kant 300 năm về trước.

• >>>>>Xem thêm: Hành trình nghiên cứu phân tâm học của Eric Richard Kandel ( P2 )

 

đó là triết gia người Í Pico della Mirandola, một trong những triết gia tên tuổi của thời Phục hưng. Con người, theo Pico della Mirandola, là một thực thể rất độc lập. Vì con người có phẩm giá (khả năng) tự do suy nghĩ và hành động, nên họ có toàn quyền định đoạt làm gì và tự mình trở nên như thế nào.
Kant cũng có cái nhìn như thế. Vấn đề không phải là bản tính thiện nơi con người, mà là sự thúc đẩy, bó buộc họ trở nên thiện hảo. Không phải bản tính thiện, mà là sự cần-trở-nên-thiện mới là đề tài của Kant. Ông nghiên cứu tường tận Lí trí con người, để tìm xem thiên nhiên có bẩm sinh cho con người một nguyên tắc nào đó giúp họ có được đạo đức không. Ông nhận ra, chẳng phải năng khiếu hay tính khí hoặc môi trường sống bảo đảm cho con người nên tốt, nhưng con người trở nên tốt duy nhất chỉ vì Í chí của họ. Nếu con người muốn chung sống hài hoà bên nhau, họ phải hành động theo cái Í chí tốt lành đó, Í chí này không chỉ là một động cơ, nhưng còn là một luật bất biến. Yêu sách phải trở nên tốt này Kant gọi là kategorischer Imperativ (Yêu sách nền tảng). Câu nổi tiếng nhất nói về điều này được ông viết ra trong Kritik der reinen Vernunftnhư sau: „Bạn hãy không ngừng hành động như thể cái châm ngôn của í chí Bạn luôn đồng thời cũng có giá trị như nguyên tắc của một luật chung“(Handle stets so, dass die Maxime deines Willens jederzeit zugleich als Prinzip einer allgemeinen Gesetzgebung gelten kỡnne).
Vì con người có khả năng muốn sống thiện, thì họ cũng cần nên sống thiện. Với Kant, kết luận trên đây không phải là một đạo đức do ông đặt ra, nhưng đó là cách thức Lí trí con người hoạt động một cách hoàn toàn hợp lí. Có luật đạo đức trong tâm con người. Và Kant chẳng làm gì ngoài việc phân tích nó, cũng như trước đây ông đã phân tích vũ trụ. Với ông, nhiệm vụ hướng thiện như vậy là một thứ hiện tượng thiên nhiên, cũng giống như tinh tú và bầu trời.

• >>>>>Xem thêm: quay phim cưới hỏi

Vì thế, ông tin rằng, Yêu sách nền tảng có giá trị tuyệt đối và phổ quát. Mọi người trên thế gian có thể và nên sử dụng nó. Ai làm theo luật đạo đức của lòng mình, thì đó là một người tốt, người đó có được những hành vi tốt, cho dù í hướng tốt của họ có thể mang lại những hậu quả xấu. Là vì theo Kant, nếu í hướng tốt, thì hành động cũng được coi là hợp lí về mặt đạo đức.
Kant hài lòng về mô hình tư tưởng của ông, dù rằng trong những năm cuối đời, có dấy lên một nghi ngờ, là không biết hệ thống suy tư của ông rồi đây có đứng vững được trước những khám phá của khoa Sinh học không. Rốt cuộc Kant tự an ủi rằng, „việc hành xử rập khuôn của Lí trt có thể là „một nghệ thuật muôn đời ẩn dấu trong tận thâm sâu của não chúng ta“, và „ta khó mà đoán ra và lột trần những xảo thuật của nó ra trước mắt mình được”. Cuộc sống thanh bạch của ông đã giúp ông tránh được những lo lắng thái quá. Vào tuổi 60, ông đã có thể tậu cho mình một căn nhà riêng, có một người giúp việc và một bà nấu bếp. Trong tuổi già, ông đột ngột bị chứng Alzheimer (bệnh quên), trí nhớ mòn dần và cuối cùng không còn nhận ra được phương hướng. Vào một buổi sáng lúc 11 giờ năm 1804 ông mất trong tình trạng đã loạn trí nặng.

• >>>>>Xem thêm: Bí quyết tăng điểm chất lượng trong quảng cáo Google Adwords đừng bỏ qua