Quá trình hình thành đầy gian nan của triết học phân tích

Tractatus của ông là một ngõ cụt. Philosophischen Untersuchungen trái lại là một cảm hứng đầy hoa trái cho Triết học và cho cả khoa Ngôn ngữ học được hình thành từ đây. Một môn triết mới hình thành, đó là Triết học Phân tích, một luồng triết học có thể nói quan trọng nhất trong hậu bán thế kỉ 20. Các vấn đề của Triết học, như gợi í của Wittgenstein, luôn luôn cũng là những vấn đề tìm hiểu và phân tích những câu nói của ngôn ngữ. Lí do là vì ngôn ngữ luôn ảnh hưởng trên cách thức con người kinh nghiệm thế giới. Theo ông, chẳng có kinh nghiệm cảm giác „tinh khiết” nào mà chẳng bị vẫn đục bởi tư duy (ngôn ngữ). Và cũng chẳng có í nghĩa nào rõ ràng cả, vì ngôn ngữ vốn luôn đa nghĩa. Trong khu rừng già chằng chịt giao thoa ngữ nghĩa đó, Triết học Phân tích phải tìm cho mình lối ra.
Khoa Ngôn ngữ học bước vào tìm hiểu ngữ nghĩa trong từng lời/câu chữ để khám phá „trò chơi ngôn ngữ”.

• >>>>>Xem thêm: Hành trình nghiên cứu phân tâm học của Eric Richard Kandel ( P1 )

Từ những gợi í của Wittgenstein, John
Langshaw Austin người Anh và John Rogers Searle người Hoa-kì trong thập niên 50’ và 60’ đã đưa ra một thuyết Nói. Là vì Austin nhận ra rằng, hễ người nào nói điều gì, thì cũng có nghĩa là người đó „làm một cái gì“. Và vấn đề quyết định trong việc hiểu câu văn không phải là tìm xem câu đó đúng hay sai, mà tìm xem đối tượng có thành công hay không trong việc hiểu ra í định của người nói. Thuyết Ngôn ngữ phản ảnh sự thật giờ đây trở thành thuyết Truyền thông xã hội. Ngôn ngữ loài người là một phương tiện truyền thông tuyệt diệu. Nhưng với Wittgenstein, Triết học phải hiểu rằng, ngôn ngữ không phải là phương tiện duy nhất để tiếp cận sự thật. Chỉ khi ta hiểu được rằng, các phương tiện giữ trật tự của trí óc, đó là Tư duy và Ngôn ngữ, không „tự chúng“ phản ảnh thực tại, mà chỉ là những mô thức để giải thích thế giới theo tiêu chuẩn của những quy luật trò chơi riêng, lúc đó ta mới hiểu và tới gần người khác được hơn. Ai nhìn ra được những sự vật khác nhau, người đó cũng có kinh nghiệm khác. Và ai kinh nghiệm khác, người đó cũng nghĩ khác. Và ai nghĩ khác, người đó cũng sử dụng một ngôn ngữ khác. Con người khác con vật ở chỗ, mỗi người có một lối nghĩ và nói khác nhau. Giới hạn của bộ máy nhận thức giác quan và giới hạn của ngôn ngữ cũng là giới hạn của thế giới chúng ta đang sống. Là vì việc chọn áo ngôn ngữ của tư duy chúng ta bắt nguồn từ tủ áo dễ thấy của loài người. Như vậy ngôn ngữ cũng đồng thời có một nhiệm vụ căn bản không được viết ra, là nó có thể „đánh lừa“ ta qua những lời của chúng. Ngôn ngữ được „tạo“ ra, để „thiết kế“ nên thực tại và thế giới theo nhu cầu của loài người. Nếu con rắn cần một ngôn ngữ để định hướng – thật ra rắn không cần, vì nó cũng có thể nối các cảm nhận giác quan mà không cần tới ngôn ngữ – thì đó sẽ là một „ngôn ngữ của rắn“; ngôn ngữ này không thể nào thích hợp được cho loài người, cũng như ngược lại, rắn không thể nào sử dụng được „ngôn ngữ của người“. Sau này, có lần Wittgenstein nói một câu rất thông minh: „Nếu sư tử nói được, thì ta cũng chẳng hiểu được chúng! 

Cuộc du hành triết lí – tâm lí – sinh học tìm hiểu khả năng và giới hạn của nhận thức tới đây tạm kết thúc. Chúng ta đã biết đôi chút về bộ não, về gốc gác và nhiệm vụ của nó. Chúng ta đã nhìn ra những khả năng và giới hạn của nó. Chúng ta biết được sự tương tác trên nhau trong não giữa các cảm giác và lí trí, và qua đó cũng biết sơ rằng, cảm giác cái Tôi và sự nhận thức về chính mình ấn dấu trên nhau như thế nào. Chúng ta đã rõ về sự nhào trộn giữa Í thức và Vô thức, và cũng hiểu rằng, mình còn biết rất ít về diễn trình ghi nhận và bỏ quên các kí ức của não. Chúng ta đã biết, não là một cơ quan tự hiểu biết vô cùng phức tạp và tỉ mỉ, nhưng nó không được tạo ra cho mục đích nhận diện thế giới khách quan.

 

• >>>>>Xem thêm: Các kênh truyền thông trực tiếp

Chúng ta đã thấy, ngôn ngữ của chúng ta thích hợp cho việc gì và đâu là những khó khăn của nó trong việc diễn tả „tính khách quan“. Vì thế, việc suy nghĩ về chính mình và về thế giới cũng không khác chi việc dùng xe hơi bơi qua con sông hay dùng xe ba bánh để vượt sa mạc. Công việc đòi hỏi nhiều nỗ lực khó khăn. Dù sao thì giờ đây chúng ta cũng đã biết được một vài phần quan trọng của bộ máy con người, để chúng ta có thể hiểu được những hành động cũng như những cái bỏ qua của chúng ta. Cuộc hành trình đi vào trong chính con người chúng ta sẽ đưa ta tới một chiều kích khác: tới câu hỏi, ta đánh giá hành vi của ta như thế nào. Cho tới đây, nghiên cứu não đã có nhiều đóng góp cần thiết. Nhưng từ đây trở đi, nó sẽ phải lùi lại phía sau, dĩ nhiên nó sẽ không biến đi hoàn toàn, để Triết học lên tiếng. Thỉnh thoảng chúng ta sẽ còn cần tới những lời khuyên của nghiên cứu não, cả trong câu hỏi về Thiện, Ác. Dù Sinh học có thể cắt nghĩa cho ta nhiều điều về Thiện Ác, vấn đề đạo đức trước sau vẫn luôn là một câu hỏi của Triết học và có lẽ cả của Tâm lí học: Các quy chuẩn xét đoán đúng hay sai đến từ đâu? Chúng ta đánh giá thái độ và hành động của ta đựa theo tiêu chuẩn nào? Và tại sao chúng ta lại hành động như vậy?

• >>>>>Xem thêm: Bài viết SEO chất lượng cao là gì ? và làm sao để đạt được nó